GoEdu - Học trực tuyến

Bài giảng

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Thứ Ba, 31/05/2011, 05:12 CH | Lượt xem: 6087

Kiến thức và Luyện tập

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

1. Ngôn ngữ chung có thể là tiếng nói của dân tộc tiếng nói phổ thông của một quốc gia, cũng có thể là ngôn ngữ của một cộng đồng rộng lớn hơn.

Ví dụ, nước ta 54 dân tộc (Kinh, Mường, Thái, Ba Na, Khơ me,…) thì mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng; nhưng người Việt Nam lại có tiếng nói phổ thông là tiếng Việt. Tiếng Anh là ngôn ngữ của một cộng đồng rộng lớn, không chỉ riêng người Anh nói tiếng Anh mà còn có hơn một tỉ người trên hành tinh nói tiếng Anh.

Ngôn ngữ chung bao gồm số lượng từ ngữ, cách đặt câu dùng từ, cách biểu cảm. Có nắm được ngôn ngữ chung ở một mức độ nào đó thì mới nói và nghe được, nói và viết được.

Có hai cách học hỏi: học ngôn ngữ qua giao tiếp tự nhiên, hằng ngày; học hỏi qua nhà trường, sách vở, báo chí.

"Trẻ lên ba cả nhà học nói"; trẻ em lên 6, 7 tuổi đã có thể sử dụng giao tiếp tiếng mẹ đẻ một cách khá đông đủ, trôi chảy. Học một ngoại ngữ thường phải mất vài năm.

Nói và viết là yêu cầu cao hơn nói và nghe. Học tiếng, học phát âm, học viết đúng chính tả, học ngữ pháp học diễn đạt… mới có thể nói là đã làm chủ ngôn ngữ. Còn như tiếng bồi, vừa nói vừa lồng tay ra hiệu, vừa gật đầu… thì chưa gọi là "lời nói cá nhân" được.

2. Lời nói cá nhân thể hiện ở hai dạng: nói - nghe; nói - đọc - viết. Phải có một vốn từ ngữ nhất định, phải nắm được ngữ pháp và cách diễn đạt, phải biết biểu cảm, và nói được thứ tiếng mà ta đang giao tiếp. Năm 1905, cụ Phan Bội Châu sang Nhật pahỉ dùng hình thức bút đàm.

Ở một trình độ cao hơn là phải biết nói, biết đọc, biết viết (đặt câu, dùng từ, biết tạo lập văn bản). Nếu còn "ấm ớ", còn "mô tê" thì lời nói cá nhân chưa hoàn chỉnh.

Qua lời nói cá nhân (giao tiếp hoặc xem văn bản) ta biết được cái tầm trí tuệ, học vấn của người đó.

Lời nói cá nhân bao giờ cũng in đậm cá tính: nói nhanh liến thoáng, nói chậm từ tốn, vừa nói vừa múa tay, nói to, nói nhẹ nhàng,… Do đó ta phải tập nói, tập viết, biết khiêm tốn nói ít nghe nhiều, biết "học ăn, học nói, học gói, học mở".

Sống trong thời đại kinh tế trí thức, ta phải biết làm chủ lời nói cá nhân của mình. Lời nhắc của ôg cha không nên quên, đừng quên:

      "Người khôn nói ít nghe nhiều,

Đừng như người dại lắm điều rởm tai".

 

 

 

Luyện tập

A. Giải thích ngắn gọn câu tục ngữ: "Học ăn, học nói, học gói, học mở".

1. Chúng ta phải học nói.

- Nói năng suy cho cùng là một hành vi đạo đức. Nó thể hiện nếp sống văn hoá và phẩm chất trí tuệ, tâm hồn con người.

- ý thức được điều đó, ông cha ta đã để lại một số lượng đáng kể, những lời răn dạy về cách thức nói năng trong giao tiếp và cư xử. Tiêu biểu là câu tục ngữ sau đây:

“Học ăn học nói, học gói học mở”.

2. Muốn sống đẹp ta phải biết làm chủ bản thân.

- Muốn được như vậy, không có cách nào khác là phải học “Học ăn học nói, học gói học mở”. “Ăn, nói, gói, mở” là những hành vi của con người. Trước hết có thể hiểu theo nghĩa đen của từ để thấy rằng việc gì cũng phải học để biết và hành động thành thạo – nhất là những việc thể hiện rõ trình độ văn hóa: “ăn – nói” và những việc thể hiện rõ kĩ sảo “gói – mở”.

- Nhưng cũng có thể hiểu câu tục ngữ trên chỉ tập trung răn dạy con người cần học hỏi để thực hiện tốt hành vi nói năng. Xưa nay, nhân dân ta cũng thường dùng từ ghép “ăn nói” để chỉ về hành vi sử dụng ngôn ngữ. Do vậy, việc “gói, mở” có thể hiểu là cách nêu vấn đề và kết thúc vấn đề trong hành vi nói năng. Đó là một kĩ năng thể hiện tài nghệ vận dụng ngôn ngữ của người nói – người viết trong giao tiếp.

- Biết “ăn, nói, gói, mở” một cách khiêm nhường, lễ phép, biết nói ít nghe nhiều, biết sống có ý tứ, biết “gói, mở” trong ứng xử là sự thể hiện một nhân cách văn hoá cao đẹp.

3. Lời nói là vàng ngọc. Ta phải có ý thức “học ăn, học nói, học gói, học mở”.

- Lời nói là sự vận dụng những quy tắc ngôn ngữ của cộng đồng trong từng cá nhân. Nó là nghệ thuật ứng xử nhưng lại góp phần bộc lộ rõ nhất tư tưởng – tình cảm – thái độ và vốn văn hoá của mỗi người.

- Câu tục ngữ trên mãi mãi là lời khuyên có giá trị giúp cho ta tránh những thiếu xót, khiếm khuyết và sự thô thiển trong lời ăn, tiếng nói.

B. Hãy bình luận câu tục ngữ sau:

-                               "Đất tốt trồng cây rườm rà,

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng".

-                             "Đất xấu trồng cây khẳng khiu,

Những người thô tục nói điều phàm phu".

Gợi ý làm bài

I. Mở bài.

Sống đẹp là mục tiêu phấn đấu của mỗi chúng ta. Nghệ thuật ứng xử, giao tiếp là một trong những biểu hiện của sống đẹp. Tục ngữ là kho tàng quý báu của nhân dân cho ta nhiều kinh nghiệm, nhiều bài học về ứng xử, giao tiếp, nhất là về mặt lời ăn tiếng nói. Mỗi điều khen, chê mà tục ngữ nêu ra thật vô cùng chí lý. Để giao dục cách ăn nói cho mọi người, tục ngữ có câu:

        "Đất tốt trồng cây rườm rà,

Những người thanh lịch nói ra dịu dàng".

Và còn có câu:

"Đất xấu trồng cây khẳng khiu,

Những người thô tục nói điều phàm phu".

II. Thân bài:

1. Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, rút ra ý nghĩa:

Hai câu tục ngữ trên đều nêu lên một nhận xét rất sâu sắc về cách ăn nói của hai loại người trong xã hội: Người thanh lịch và người thô tục.

Câu thứ nhất: Đất có tốt tươi, màu mớ thì mới có thể trồng được "cây rườm rà", cành lá sum sê, tươi tốt. Trong xã hội cũng vậy, chỉ có những người thanh lịch, văn minh, có văn hóa, có nhân cách mới biết ăn nói "dịu dàng", êm ái, nhẹ nhàng, dễ nghe.

Câu thứ hai: Đất xấu, cằn cỗi, chỉ có thể mọc lên "cây khẳng khiu" lá cành xơ xác. Còn người cũng thế, kẻ thô tục, vô học, kém đạo đức luôn luôn nói ra những "điều phàm phu", thô lỗ, xằng bậy, tục tằn:

Hai câu tục ngữ trên, bằng cách so sánh cụ thể, lấy đất và cây trồng để so sánh với hai loại người có hai cách ăn nói, hai lối sống đối lập, từ đó nêu lên nhận xét, biểu thị thái độ khen, chê, đưa ra một lời khuyên về cách ăn nói sao cho văn minh, lịch sự, không được thô lỗ, tục tằn,  biết nói lời hay, ý đẹp trong giao tiếp, ứng xử.

2. Bình luận:

a. Bình:

Hai câu tục ngữ trên hoàn toàn đúng.

Trong xã hội, kẻ thô tục tất nói điều phàm phu, thô lỗ. Kẻ thô tục vì đạo đức kém, thiếu nhân cách, không được giáo dục, lại vô học nên nói năng bừa bãi, thiếu suy nghĩ. Họ bị mọi người coi khinh. Đáng buồn thay, kẻ thô tục ăn nói thô lỗ không hề biết tự xấu hổ.

Trái lại, người thanh lịch là người có nhân cách, có đạo đức, có văn hoá biết kính trên nhường dưới, ăn nói có suy nghĩ chín chắn. Họ hiểu rõ mục đích nói và làm. Họ biết học tập lời ăn tiếng nói của nhân dân để diễn đạt tư tưởng một cách sâu sắc, ý nhị. Nói với ai, nói điều gì, nói như thế nào là ba câu hỏi tự hỏi mình trước lúc nói.

Ngôn ngữ là tài sản quý báu lâu đời của nhân dân. Ngôn ngữ phát triển theo hướng đi lên của lịch sử. Nó là công cụ giao tiếp, diễn đạt tư tưởng, biểu lộ tình cảm giữa con người với con người. Nhờ học tập và tự rèn luyện, chúng ta mới có ngôn ngữ phong phú, uyển chuyển. Ăn nói tục tằn, thô lỗ vì vô học và vô đạo đức. Qua lời ăn tiếng nói, ta dễ dàng đánh giá được nhân cách của mỗi người.

Tóm lại, hai câu tục ngữ trên cho ta bài học quý báu về ứng xử, giao tiếp. Nói năng phải nhẹ nhàng, khiêm tốn, lịch sự; phải biết xấu hổ về cách ăn nói thô lỗ, tục tằn.

b. Luận:

Ngôn ngữ, cách ăn nói phản ánh tâm hồn, tư cách, trình độ của mỗi người. Quan hệ xã hội có thân, sơ, khinh, trọng, trên, dưới. Giao tiếp, ứng xử, nói năng phải dựa trên môi quan hệ à hoàn cảnh giao tiếp cụ thể ấy:

Ông bà ta rất coi trọng việc dạy đỗ con cháu cách ăn nói. Tục ngữ, lời ca được các cụ thường xuyên nhắc đến làm bài học đạo lý thấm thía:

- "Học ăn, học nói, học gói, học mở"

- "Gọi dạ bảo vâng".

- "Lời nói chẳng mất tiền mua

    Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau".

- "Người khôn đón trước rào sau,

    Để cho người dại biết đâu mà dò".

- vân vân…

Muốn nói lời hay ý đệp thì trước hết phải tu dưỡng đạo đức, biết "Tiên học lễ, hậu học văn", khiêm tốn học hỏi cách ăn nói của mọi người. Đọc sách, học tập thơ văn kết hợp lời ăn tiếng nói của nhân dân để trau dồi ngôn ngữ. Thi hào dân tộc Nguyễn Du, tác giả "Truyện Kiều" từng tâm sự: "Nghe khúc hát thôn quê học được lời nói trong nghề trồng dâu gai".

Xã hội đang đổi mới. Văn hóa, kinh tế, khoa học nước nhà phát triển mạnh mẽ. ở bất cứ cương vị nào, đứa con trong gia đình, người học sinh dưới mái trường, người công dân ngoài xã hội, đều phải có ý thức học tập giao tiếp, thể hiện một nhân cách văn hóa mang bản sắc dân tộc.

 Ăn nói "dịu dàng" không có nghĩa là "hoa hoè hoa sói" vô lối, ăn nói bợ đỡ, xu nịnh, tự làm giảm nhân cách trong giao tiếp. Chúng ta phê phán cách ăn nói thô tục, xu nịnh; luôn luôn đề cao thái độ chân thật, trung thực trong ứng xử.

III. Kết luận:

Đạo đức là cái gốc của con người. Ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử được nhân dân ta coi trọng nhằm giáo dục nhân cách. Hai câu tục ngữ trên cho chúng ta bài học sâu sắc trong giao tiếp. Sự khôn ngoan, lịch thiệp được thể hiện rất rõ qua cử chỉ và lời ăn tiếng nói của mỗi người. Giáo dục ngôn ngữ chính clà giáo dục đức hạnh. Hướng về văn minh, tiến bộ để sống đẹp, lịch sự hơn. Thanh thiếu nhi chúng ta, thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạngc ủa cha anh trên lộ trình bước sang thế kỷ XXI, cần học thêm ngoại ngữ nhưng không được coi nhẹ cách nói, cách viết để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Con người thanh lịch phải là con người giỏi tiếng Việt, rất yêu tiếng Việt..

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân

Đăng bởi:Mộc Miên
Ngày đăng: 31/05/2011

Bình luận

Bài giảng khác