Sổ tay GV Hoá

Nguyên tắc chung khi dạy các bài về thuyết và định luật trong chương trình Hóa học phổ thông

Thứ Tư, 16/06/2010, 04:54 CH | Lượt xem: 10064
Nguyên tắc chung khi dạy các bài về thuyết và định luật trong chương trình Hóa học phổ thông

Các thuyết – định luật Hóa học giữ vai trò cơ sở lý thuyết cho toàn bộ chương trình , giúp cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể của chương trình hóa học. Tuy nhiên, để học sinh nắm được nội dung của các thuyết và định luật thật không hề đơn giản. Vì vậy, khi dạy các bài về thuyết và định luật, cần thực hiện các nguyên tắc sau

Nguyên tắc 1. Khi dạy học về các thuyết và định luật Hóa học cơ bản cần xuất phát từ các sự kiện cụ thể, riêng lẻ có liên quan đến nội dung học thuyết, định luật để khái quát hóa, tìm ra bản chất chung hoặc quy luật được nêu ra trong nội dung cơ bản của học thuyết đó.

Năm 1897 – Từ thí nghiệm của Tôm-xơn đã phát hiện ra tia âm cực mà bản chất là chùm các hạt nhỏ bé mang điện tích âm gọi là các electron.

 

Năm 1911 – Rơ-dơ-pho và các cộng sự đã cho các hạt a bắn phá một lá vàng mỏng và dùng màn huỳnh quang đặt sau lá vàng để theo dõi đường đi của hạt α.

Từ đó đi đến kết luận nguyên tử có cấu tạo rỗng, các e chuyển động tạo ra vỏ electron bao quanh hạt mang điện tích dương có kích thước nhỏ bé so với kích thước nguyên tử, nằm ở tâm nguyên tử. Đó là hạt nhân nguyên tử.

 

Năm 1916 – Rơ-dơ-pho phát hiện ra một loại hạt mang điện tích gọi là proton đó chính là ion dương H+ được ký hiệu bằng chữ P.

Năm 1932 – Chat-vich cộng tác viên của Rơ-dơ-pho dùng hạt a bắn phá 1 tấm kim loại Beri mỏng phát hiện ra một loại hạt mới có khối lượng xấp xỉ khối lượng của proton nhưng không mang điện, được gọi là hạt nơtron (ký hiệu chữ n).

Từ các sự kiện là những thí nghiệm của các nhà bác học dần dần dẫn đến sự khái quát tìm ra bản chất của nội dung thuyết cấu tạo nguyên tử:

Thành phần cấu tạo nguyên tử gồm:

- Hạt nhân nằm ở tâm của nguyên tử gồm các hạt p, n.

- Vỏ electron của nguyên tử gồm các e chuyển động xung quanh hạt nhân.

- Các đặc điểm của các loại hạt (kích thước, khối lượng, điện tích...).

Nguyên tắc 2. Cần phải nêu rõ (phát biểu) một cách chính xác, khoa học nội dung của học thuyết hoặc định luật cần nghiên cứu.

Thí dụ: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.

Khi nghiên cứu về định luật tuần hoàn các nguyên tố hóa học cần phải nghiên cứu sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử các nguyên tố hóa học (Bảng 2-1 trang 39 sách giáo khoa lớp 10) và từ đó phải nêu rõ định luật tuần hoàn phát biểu như sau: "Sự biến đổi tuần hoàn về cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố chính là nguyên nhân của sự biến đổi tuần hoàn về tính chất của các nguyên tố́ đó". Đó chính là cơ sở của định luật tuần hoàn Men-đê-le-ep.

Nguyên tắc 3. Từ nội dung của định luật học thuyết cần chỉ ra cơ sở khoa học, ý nghĩa của chúng để giúp học sinh hiểu, nắm chắc nội dung và vận dụng trong việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể, giải quyết các vấn đề học tập đặt ra.

Thí dụ: Từ định luật tuần hoàn và thuyết electron cần chỉ ra cơ sở khoa học của nội dung định luật đó là cấu hình electron sẽ quyết định tính chất của các chất và sự biến đổi tính chất của các chất và hợp chất của chúng. Từ đó thấy được vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc vận dụng xét về mối quan hệ giữa vị trí và cấu tạo, giữa vị trí và tính chất, so sánh tính chất hóa học của một nguyên tố với các nguyên tố lân cận...

Nguyên tắc 4. Cần cho học sinh vận dụng những nội dung của các học thuyết vào việc nghiên cứu các trường hợp cụ thể khác nhau để hiểu sâu sắc nội dung của nó, hoàn thiện – phát triển, mở rộng phạm vi áp dụng của nó.

Thí dụ: Vận dụng các nguyên lý và quy tắc phân bổ electron trong nguyên tử để viết cấu hình electron của một số nguyên tố trong phân nhóm phụ như: Cu, Fe, Cr... (mở rộng phạm vi áp dụng) để hiểu rõ hơn, sâu hơn về quy luật phân bố e. Cu: Z = 29 cấu hình e: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d9 4s2 nhưng do phân lớp 3d9 rất dễ dàng nhận 1e của phân lớp 4s2 để tạo thành cấu hình 3d10 là cấu hình bền vững nên cấu hình electron của Cu là 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d10 4s1.

Nguyên tắc 5. Cần tận dụng các kiến thức lịch sử hóa học để giúp học sinh hiểu được những nội dung khó của phần lý thuyết và giới thiệu cách tư duy khoa học của các nhà hóa học để rèn luyện phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.

Thí dụ: Minh họa như ở nguyên tắc 1.

Hoặc giới thiệu lịch sử về nhà bác học Men- đê- lê - ep (trang 55 – Sách giáo khoa hóa học, lớp 10).

Nguyên tắc 6. Tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan: mô hình, tranh vẽ, thí nghiệm, biểu bảng... giúp học sinh tiếp thu được dễ dàng các nội dung của các thuyết và định luật hóa học.

 

(Theo tư liệu hóa học phổ thông- Đặng Thị Oanh, Trần Trung Ninh)

Bình luận

Tin liên quan

Cùng chuyên mục